Articles by "Mang thai"

Showing posts with label Mang thai. Show all posts

Mắc bệnh quai bị khi mang thai có ảnh hưởng đến thai nhi là một trong số thắc mắc hàng đầu được các mẹ quan tâm. Bệnh quai bị tuy chỉ là bệnh nhẹ, nhưng có thể để lại nhiều biến chứng vô cùng nguy hiểm nếu mẹ bầu không biết cách chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của mình. Liệu bà bầu bị quai bị có nguy cơ bị sảy thai không, và cần điều trị như thế nào để khắc phục những ảnh hưởng khó lường? Mời các bạn cùng tìm hiểu qua bài viết dưới đây nhé.

Bà bầu bị quai bị có nguy hiểm không?



Bạn có biết: virut quai bị có thể gây viêm nhiễm buồng trứng, đồng thời làm cho tế bào trứng bị phá hủy, thậm chí có thể lây nhiễm sang thai nhi thông qua nhau thai.
Sau khi mẹ bầu bị nhiễm virut quai bị thì sẽ phát bệnh nhanh, triệu chứng giống như bị cảm cúm như: sốt, nhức đầu, mệt mỏi, đau cổ họng, amidan sưng to nhưng đặc trưng là một hoặc hai bên amidan sưng to, lấy tai làm trung tâm lan tỏa ra phía trước, sau và phía dưới, ấn thấy đau, đồng thời đạt mức cao điểm từ 2 – 3 ngày, kéo dài khoảng 5 – 7 ngày.
Nếu thai phụ đang ở giai đoạn 3 tháng đầu mà bị quai bị, người đó có thể gây sẩy thai hoặc sinh con dị dạng.
Còn nếu bà bầu mắc bệnh quai bị trong 3 tháng cuối của thai kỳ có thể sinh non hoặc thai chết lưu.
Nên đọc:  Nhạc cho bà bầu: âm nhạc là một liều thuốc tốt cho bà bầu và thai nhi?

Mang thai bị quai bị nên làm gì?



Khi có dấu hiệu ốm sốt kèm với triệu chứng sưng viêm quai hàm, các mẹ nên nhanh chóng đi khám. Tuy chưa có loại thuốc nào chữa quai bị, nhưng bác sĩ sẽ giảm thiểu những triệu chứng khó chịu cho bạn như sốt, sưng quai hàm…
Bạn nên ăn đồ ăn mềm, lỏng như: soup, sữa bò, mì sợi, thực phẩm bột, uống nhiều nước và nghỉ ngơi hợp lý. Ngoài ra, bạn cần giữ gìn vệ sinh khoang miệng sạch sẽ, dự phòng vi khuẩn tiếp tục viêm nhiễm và nhớ súc miệng sau mỗi bữa ăn.
Điều quan trọng nhất khi mắc bệch quai bị trong thai kỳ, bạn không nên tự ý dùng thuốc điều trị, đặc biệt là các loại thuốc kháng sinh. Tốt nhất, bạn nên đi khám và thực hiện theo phác đồ điều trị của bác sỹ.
Sau khi đã khỏi bệnh, các mẹ cần thường xuyên đi khám thai để xem bệnh có gây biến chứng gì cho thai nhi không và nhận được lời khuyện hợp lý của bác sĩ về tình trạng của mình nhé.
Phòng tránh bệnh quai bị cho thai phụ

Cách phòng bệnh tốt nhất là tiêm vaccine, và nên tiêm trước khi lên kế hoạch mang bầu.
Ngoài ra, cũng nên tránh tiếp xúc với những người mắc (hoặc đang nghi mắc) quai bị để tránh lây nhiễm.

Trên đây, các bạn vừa tìm hiểu về vấn đề bà bầu bị quai bị nên làm gì để khắc phục các biến chứng nguy hiểm cho cả mẹ và thai nhi. Hy vọng rằng những kiến thức trên hữu ích với bạn đọc.


Theo Hanhphuccuame

Nếu bạn đã từng sinh con và trải qua một lần sinh mổ nhưng bạn lại thực sự muốn trải nghiệm một ca đẻ thường trong lần mang thai này thì đây có lẽ là một mong muốn rất dũng cảm của bạn. Lý do là vì việc này khá tiềm ẩn khá nhiều rủi ro cho cả hai mẹ con.

Trước khi quyết định, hãy tham khảo những yếu tố rủi ro và khả năng thành công của bạn:

Số lần sinh mổ trước đây

Đơn cử theo hướng dẫn của Hiệp hội Sản Phụ khoa Canada, các bà mẹ qua hai lần sinh mổ trước đây có thể sinh thường ở lần thứ 3, nhưng trên thực tế, ít có bệnh viện hay cơ sở y tế nào chấp nhận điều này và họ thường không cho phép sản phụ sinh thường sau 2 ca sinh mổ trước đó.

Lý do sinh mổ trước đây

Lý do để quyết định sinh mổ trong lần sinh trước có thể ảnh hưởng đến cơ hội thành công nếu bạn chọn sinh thường ở lần sau, dù không lớn như mọi người vẫn nghĩ. Chẳng hạn, nếu bạn được chỉ định sinh mổ vì vấn đề gì đó thì rất có thể vấn đề đó sẽ lập lại, ví dụ như thai nhi không xoay đầu xuống và nằm ngôi mông. Lúc này, tỉ lệ sinh thường thành công của bạn vào khoảng 80%, và giảm xuống còn 60% nếu lần sinh trước bạn đã cố gắng sinh thường nhưng không thành và buộc phải chỉ định mổ bắt con.


Mẹ bầu cân cân nhắc kỹ lưỡng trước khi quyết định sinh thường sau sinh mổ.

Loại sẹo tử cung từ lần sinh mổ trước

Điều đầu tiên bạn cần biết là bạn được rạch tử cung như thế nào trong lần sinh mổ trước. Có hai kiểu vết rạch tử cung trong phẫu thuật mổ bắt con: vết rạch cổ điển từ trên xuống và vết rạch ngang. Bạn chỉ có thể biết điều này dựa trên thông tin y bạ của bạn trong lần nhập viện sinh con trước, vết rạch ngoài da trên bụng của bạn không nói lên điều gì cả. Vết rạch dọc theo kiểu cổ điển – ít phổ biến – làm tăng đáng kể nguy cơ bục tử cung, do vậy nếu bạn có vết rạch kiểu này, tốt nhất là bạn nên tiếp tục sinh mổ. Và nếu bạn không biết sẹo tử cung của mình thuộc loại nào, bạn cũng không nên liều lĩnh làm gì.

Quá trình sinh nở bắt đầu như thế nào

Các loại thuốc truyền trong quá trình sinh nở thường dùng để kích thích co tử cung, gel bôi nội tiết hoặc thuốc nhét âm đạo để làm mềm và mở cổ tử cung đồng thời cũng làm tăng gấp đôi nguy cơ bục vết rạch tử cung từ ca sinh trước. Đó là lý do vì sao các cơ sở y tế thường sẽ để sản phụ chuyển dạ và sinh nở tự nhiên, ít can thiệp thuốc men nếu trước đó sản phụ đã từng sinh mổ.

Sinh nở tự nhiên và không dùng thuốc men trợ giúp có tỷ lệ vượt cạn suôn sẻ cao hơn đối với sản phụ đã từng có sẹo mổ tử cung. Trong thực tế, nếu các cơn co thắt bắt đầu trước thời gian dự kiến, và bạn bước vào giai đoạn chuyển dạ tích cực trong lúc đến bệnh viện thì không chỉ cơ hội sinh con thành công cao hơn mà nguy cơ bục tử cung cũng đã qua.

Khoảng cách giữa hai lần sinh

Nếu lần sinh mổ trước cách lần sinh thường sau dưới 18 tháng, nguy cơ bục tử cung của bạn có thể tăng lên. Hầu hết các cơ sở y tế không chấp nhận cho sản phụ sinh thường trong trường hợp này.

Đã từng sinh thường trước đây

Nếu bạn đã từng sinh con đường âm đạo trước đây, bất kể là trước hay sau lần sinh mổ trước, khả năng sinh thường thành công của bạn tăng lên khoảng 90%.

Các yếu tố khác

Có bằng chứng cho thấy những phụ nữ dưới 35 tuổi hoặc phụ nữ không thừa cân có tỉ lệ sinh thường thành công sau sinh mổ cao hơn. Những phụ nữ này cũng thường mang những em bé có kích thước ước lượng nhỏ hơn. Dù vậy, việc chẩn đoán trọng lượng thai nhi là không tuyệt đối chính xác. Thêm nữa, cũng không ít trường hợp những phụ nữ nói rằng trước đây họ phải sinh mổ do em bé quá lớn không thể chui lọt qua đường sinh sau đó lại sinh nở tự nhiên thành công cả với em bé còn lớn hơn.


Theo webgiadinh.org

Quả thật rất khó để dự đoán thời điểm sắp sinh, em bé sắp chào đời , vì ở mỗi lần sinh ở mỗi người là khác nhau. Nhưng “bloglamme.net” có thể giúp đỡ bạn nhận biết thời điểm sinh em bé đang đến. Có một số dấu hiệu rõ ràng chứng tỏ bạn sắp chuyển dạ mà bạn nên biết. Hãy lưu ý đến và chúng sẽ nói cho bạn biết rằng: bé sắp chào đời rồi đấy!



Em bé di chuyển nhiều hơn

Khoảng một vài tuần trước khi em bé sắp chào đời, em bé sẽ dần di chuyển vào vị trí trong khung xương chậu của bạn, đầu bé chúc thấp xuống dưới. Dĩ nhiên là, bạn có thể cảm thấy bước chân của mình ở thời điểm này trở nên lạch bạch hơn nhiều so với trước đây – và bạn có thể quay lại thói quen thường xuyên đi tiểu giống như trong ba tháng đầu khi mang thai, bởi vì đầu của em bé đang đẩy xuống phía bàng quang. Nhưng tin tốt là bạn sẽ cảm thấy dễ thở hơn nhiều, kể từ khi em bé di chuyển ra xa khỏi phổi của bạn.

Cổ tử cung của bạn bị giãn nở khi sắp sinh

Nó bắt đầu giãn ra và mỏng đi trong vài ngày trước khi bạn chuyển dạ. Trong tuần bạn đi khám lại, bác sĩ của bạn có thể kiểm tra và theo dõi sự giãn nở và mỏng đi của tử cung thông qua một bài kiểm tra đánh giá từ bên trong.

Bạn cảm thấy bị nặng nề và đau lưng hơn

Đặc biệt nếu đây không phải là lần đầu tiên mang thai của bạn, bạn có thể cảm thấy khó hoạt độngvà đau ở háng và lưng như khi cơn đau đẻ sắp đến gần. Cơ bắp và khớp xương của bạn cũng được kéo dài và chuyển sang thế sẵn sàng cho việc sinh em bé.



Bạn giảm sự tăng cân (hoặc giảm cân)

Tăng cân có xu hướng chững lại ở những ngày  sắp sinh. Một số bà bầu còn bị mất một vài kí-lô!

Lúc sắp sinh bạn cảm thấy càng lúc càng mệt mỏi …

Đó là việc bạn có kích thước bụng siêu lớn, cùng với bàng quang bị nén lại, nó có thể làm cho bạn khó, không thể có được một giấc ngủ ngon trong những ngày và những tuần cuối cùng của thai kỳ. Một số bà mẹ bị bùng nổ năng lượng khi ngày sinh nở gần kề.


 Dịch tiết âm đạo có sự biến đổi màu sắc và độ đậm đặc

Trong những ngày cuối khi sắp sinh, lượng chất dịch âm đạo được tiết ra nhiều hơn và đặc hơn. Bạn cũng có thể thấy lớp chất nhầy bong ra – đó là lớp nhầy giống như hình nút chai bít kín tử cung lại. Chất nhầy đó có thể được tiết ra với dạng mảng lớn có lẫn những vệt máu nhạt) hoặc đôi khi chúng được tiết ra ở dạng những mảnh rất nhỏ (bạn có thể không hề nhìn thấy trong khi chúng được tiết ra rất nhiều). Đây là một dấu hiệu tót cho thấy việc sinh đẻ sắp diễn ra (mặc dù không thấy những cơn co thắt xuất hiện hoặc tử cung giãn nở 3-4 cm, thì quá trình sinh con vẫn có thể diễn ra trong vòng một vài ngày nữa!).

Các cơn co thắt trở nên mạnh và thường xuyên hơn

Các cơn co thắt là tình trạng sớm nhận biết việc sắp sinh. Bạn sẽ cảm thấy đau tức khó chịu bởi các cơ ở tử cung đang siết chặt để chuẩn bị cho thời điểm hết sức quan trọng (đón chào bé yêu ra đời). Làm thế nào để bạn có thể nhận biết được sự khác biệt giữa các cơn co thắt báo hiệu chuyển dạ thật và giả? Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu những dấu hiệu chuyển dạ thực sự dưới đây nhé:

– Nếu bạn  sắp lâm bồn, các cơn co thắt sẽ trở nên mạnh mẽ hơn chứ không phải giảm nhẹ đi.

– Nếu bạn thay đổi tư thế, vị trí, cơn co thắt cũng không biến mất.

– Những cơn đau co thắt bắt đầu ở phần lưng dưới và chuyển lên vùng bụng dưới, và có thể là xuống cẳng chân của bạn.

– Các cơn co thắt phát triển: Chúng diễn ra thường xuyên và gây đau đớn hơn, đôi khi còn tạo nên một mô hình diễn biến thường xuyên nữa.

Vỡ ối

Vỡ ối là một trong những dấu hiệu cuối cùng báo hiệu em bé sắp chào đời mà hầu hết các bà bầu đều nhận thấy.

Tuy là ngày em bé chào đời đến gần nhưng bạn cũng không nên quá lo lắng. Bạn hãy đến gặp các bác sĩ hoặc nữ hộ sinh của mình thường xuyên, và họ sẽ giúp bạn nhận biết tất cả các dấu hiệu quan trọng báo hiệu sinh em bé.



Trên đây là một vài dấu hiệu cho thấy em bé của bạn sắp chào đời tương đối chính xác. Các ban đừng nên lo lắng mà phải thật thoải mai để đón bé yêu nhé!

Theo khampha.vn

Mẹ bầu nên biết rằng, 60‰ các ca sinh non gây tử vong hoặc biến chứng. Vì vậy, các bạn nên tìm hiểu về những nguyên nhân dẫn đến sinh non để có thể kịp thời phòng tránh.

1. Bạn bị biến chứng thai kỳ


 Ảnh minh họa.


Biến chứng có thể xảy ra trong bất kì giai đoạn nào của thai kì và có ảnh hưởng nghiêm trọng ở các mức độ khác nhau đến sức khoẻ và cơ thể của thai phụ và thai nhi. Biến chứng thai kỳ có thể là:

Thai ngoài tử cung

Biến chứng này xảy ra khi trứng thụ thai làm tổ ở ngoài tử cung. Khả năng xảy ra thường khoảng 1/200. Nếu đã từng bị thai ngoài
tử cung
trước đây hoặc từng phẫu thuật vòi trứng, xác suất này sẽ cao hơn. Đây là biến chứng bắt buộc phải can thiệp phẫu thuật để lấy phôi thai và nếu không phát hiện kịp thời có thể sẽ phải mổ cấp cứu nếu thai làm tổ ở vòi trứng gây bể vòi trứng.

Hội chứng tiền sản

Khoảng 3 đến 7% các bà mẹ mang thai mắc hội chứng tiền sản. Hội chứng tiền sản bắt đầu từ tuần thứ 20 của thai kỳ và gây ảnh hưởng đến huyết áp và protein trong nước tiểu. Nếu không được điều trị, tình trạng này có thể gây ra sinh non hoặc tử vong. Ngoài ra, nếu bạn bị hội chứng HELLP,tử cung và cổ tử cung bất thường, thiếu máu, bất tương đồng nhóm máu ABO, nhau tiền đạo, chậm tăng trưởng trong tử cung, huyết khối tĩnh mạch sâu, bị tiểu đường khi mang thai, bong nhau thai, đau dây chằng mu, nhiều nước ối hoặc ít nước ối.

2. Tiền sử sẩy thai

Nguy cơ sinh non cũng cũng có thể tăng vọt nếu bạn đã từng sẩy thai. Nếu trong quá khứ bạn đã từng phá thai thì nguy cơ sinh non cũng tăng lên.
Nếu bạn đã tiền sử hỏng thai, đừng quá lo lắng, bạn có thể đến nói chuyện với
bác sỹ
để được nghe tư vấn trong quá trình mang thai. Hãy giữ gìn sức khỏe, thường xuyên tập thể dục, điều chỉnh trọng lượng, giảm căng thẳng và ăn uống lành mạnh.

3. Mang thai đôi hoặc ba


 Ảnh minh họa.

Việc mang đa thai luôn cần được theo dõi chặt chẽ. Do vậy, điều quan trọng là thai phụ phải có được sự chăm sóc sản khoa cẩn thận và tỉ mỉ nhất. Cần phải sớm lập kế hoạch cho việc sinh nở ở đâu và như thế nào. Hầu như 60% các trường hợp mang thai đôi sẽ sinh non và với mang thai ba tỷ lệ này là 90%. So với độ dài 39 tuần của em bé thai đơn, thai kỳ của song sinh thường kéo dài 36 tuần. Thai ba thường kéo dài 32 và thai bốn chỉ kéo dài 30 tuần.  

4. Khoảng cách giữa hai lần mang thai quá gần

Đây cũng là nguyên nhân khiến bạn sinh non. Bởi khi bạn có em bé, cơ thể bạn sẽ mất rất nhiều chất dinh dưỡng. Còn khi mới sinh xong, cơ thể bạn chưa sẵn sàng để mang trong mình một đứa trẻ khác. Đó là lý do bạn cần nghỉ ngơi để phục hồi sau khi sinh con. Trường hợp bạn muốn sinh con nữa, thì nên đợi ít nhất 18 tháng.


Theo phunutoday.vn


Ăn nhiều trứng ngỗng để con thông minh, uống nước dừa để da trắng, mang thai phải ăn gấp đôi bình thường… là những quan điểm sai lầm mà các bà bầu nên tránh trong chế độ dinh dưỡng hằng ngày nếu muốn thai nhi khoẻ mạnh.

Muốn con thông minh, mẹ nên ăn nhiều trứng ngỗng?

Thực ra trứng ngỗng chỉ hiếm chứ không quý và còn kém trứng gà về mặt giá trị dinh dưỡng. Trứng ngỗng tuy giàu protein hơn trứng gà một chút (trứng ngỗng 13,5%, trứng gà 12,5%) nhưng đổi lại lượng lipit cao hơn (trứng ngỗng 13,2%, trứng gà 11,6%). Hàm lượng các vitamin của trứng ngỗng cũng thua trứng gà. Đặc biệt vitamin A, rất cần cho phụ nữ mang thai, ở trứng ngỗng chỉ bằng một nửa so với trứng gà.



Hiện chưa có công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc nào khẳng định phụ nữ mang thai nếu ăn trứng ngỗng thì con thông minh, hoặc trứng ngỗng tốt cho thai nhi hơn các trứng gia cầm khác.

Hiện chưa có công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc nào khẳng định phụ nữ mang thai nếu ăn trứng ngỗng thì con thông minh, hoặc trứng ngỗng tốt cho thai nhi hơn các trứng gia cầm khác. Do đó, thay vì cố ăn trứng ngỗng, các bà mẹ mang thai nên dùng trứng gà. Nếu có trứng ngỗng thì cũng chia nhỏ quả trứng ăn làm nhiều lần hoặc nấu cho cả nhà cùng ăn để giảm bớt lượng protein, tránh quá tải cho thận và tăng cholesterol máu, nhất là ở những bà mẹ có nguy cơ tăng huyết áp khi mang thai.

Mẹ ăn canh cá chép, uống nước dừa để đẻ con da trắng, môi đỏ?


Theo y học cổ truyền, cá chép có vị ngọt, tính bình, chứa nhiều đạm và vitamin….có tác dụng an thai, chữa phù thũng khi mang thai.

Tuy nhiên, quan niệm ăn cá chép thì đẻ con da trắng, môi đỏ hoặc sinh con gái là không có cơ sở khoa học. Cá chép nếu được nuôi trong môi trường nước bị ô nhiễm thì có khả năng nhiễm kim loại nặng vì chúng sống ở lớp bùn nên cần cẩn thận khi mua. Đặc biệt không nên ăn cá chép quá nhiều mỗi lần. Phụ nữ mang thai 3 tháng đầu chỉ ăn tăng thêm 10g đạm tương đương với 100g các chép tươi (tính cả xương), tổng lượng đạm một ngày cần khoảng 80g.
Tuy nhiên, quan niệm ăn cá chép thì đẻ con da trắng, môi đỏ hoặc sinh con gái là không có cơ sở khoa học.

Trong nước dừa có chứa hàm lượng chất béo rất cao (2%) nên uống nhiều sẽ gây đầy bụng, khó tiêu. Trong 3 tháng đầu thai kỳ, bà mẹ mang thai thường xuyên bị nôn ói, ốm nghén, uống loại nước này sẽ làm tình trạng bệnh thêm trầm trọng hơn. Tuy nhiên sau 3 tháng đầu bà mẹ mang thai có thể thoải mái uống nước dừa và loại nước này còn được coi là đồ uống “vàng” cho mẹ nữa.
Sau 3 tháng đầu bà mẹ mang thai có thể thoải mái uống nước dừa và loại nước này còn được coi là đồ uống “vàng” cho mẹ nữa.

Lợi ích của nước dừa với bà mẹ mang thai: cung cấp nước và điện giải phù hợp cho cơ thể, lợi tiểu, giúp ngăn ngừa tình trạng viêm đường tiết niệu cũng như giảm nguy cơ sỏi thận. Tuy nhiên, phụ nữ mang thai cũng chỉ nên uống lấy nước của 1 quả mỗi ngày và không nên uống buổi tối.

Tuy nhiên, phụ nữ mang thai cũng chỉ nên uống lấy nước của 1 quả mỗi ngày và không nên uống buổi tối.

Rau ngót gây sảy thai?

Theo kinh nghiệm dân gian, phụ nữ mang thai không được ăn rau ngót vì rau ngót có tác dụng làm sạch ruột, như vậy nếu ăn nhiều sẽ dẫn đến sảy thai, do đó chỉ nên ăn rau ngót sau khi sinh hoặc là khi bị sảy, nạo thai. Thực tế thì có rất nhiều trường hợp phụ nữ mang thai vẫn ăn canh rau ngót bình thường mà vẫn không sảy (không phải nước rau ngót giã sống).


Tuy nhiên, tình trạng sức khỏe của mỗi sản phụ là khác nhau. Những thai phụ có tiền sử sảy thai liên tiếp đẻ non, con quý hiếm (thụ tinh trong ống nghiệm) thì nên hạn chế ăn rau ngót đặc biệt là uống nước rau ngót sống, liều cao. Bà mẹ mang thai bình thường vẫn có thể ăn rau ngót luộc hay nấu canh, nhưng cần chọn loại tươi sạch.



Bà mẹ mang thai bình thường vẫn có thể ăn rau ngót luộc hay nấu canh, nhưng cần chọn loại tươi sạch.

Khi mang thai, mẹ bầu phải ăn nhiều gấp đôi bình thường?

Trong 3 tháng đầu thai kỳ, bà bầu chỉ cần duy trì mức năng lượng bình thường, thai phụ chỉ cần tăng 0,9 kg tới 2,3 kg, riêng các mẹ đã béo phì thì không nên để tăng cân. Tốt nhất thai phụ nên ăn vừa phải, có một chế độ ăn uống cân bằng dinh dưỡng .

Nên chú trọng những chất dinh dưỡng cần thiết như:

Chất đạm (protein): Có nhiều trong thịt, cá, trứng, sữa, các loại đậu… giúp phát triển các tế bào mô của thai (bao gồm cả tế bào não), giúp cho tuyến vú và mô tử cung của mẹ phát triển suốt thai kỳ, đồng thời tăng thể tích tuần hoàn của mẹ. Thai phụ cần bổ sung thêm 10-18g protein mỗi ngày (tương đương 50-100 gr thịt cá tùy loại, 100-180 gr đậu hũ, hay 1-2 ly sữa mỗi ngày).

Trong 3 tháng đầu thai kỳ, bà bầu chỉ cần duy trì mức năng lượng bình thường, thai phụ chỉ cần tăng 0,9 kg tới 2,3 kg. 

Chất sắt: Có nhiều trong thịt, gan, tim, cật, rau xanh và các loại hạt… giúp tăng thể tích máu và phòng ngừa thiếu máu. Nếu thai phụ thiếu máu sẽ làm giảm lực co bóp của tử cung khi chuyển dạ, giảm lượng sắt dự trữ của em bé trong 6 tháng đầu đời. Vì thế thai phụ cần bổ sung thêm ít nhất 15gr sắt mỗi ngày.

Canxi: Có nhiều trong sữa, trứng, tôm, cua, cá, rau xanh, đậu đỗ… giúp hoạt động hệ thần kinh và đông máu bình thường cho mẹ, hình thành hệ xương và răng vững chắc cho bé. Nếu thiếu canxi mẹ dễ bị vọp bẻ, đau nhức xương, bé có thể bị còi xương ngay trong bụng mẹ.

Acid folic (vitamin B9): Giúp giảm nguy cơ dị tật ống thần kinh cho trẻ, tật nứt đốt sống trong bào thai. Vitamin này có trong các loại rau màu xanh thẫm như rau muống, cải xanh, súp lơ xanh, cải bó xôi, ngũ cốc hoặc một số loại hạt như vừng, lạc… Ngoài ra acid folic còn có trong thịt gia cầm và nội tạng động vật như gan, tim…

Vitamin D: Có trong trứng, sữa và ánh nắng mặt trời. Ngay từ trong bào thai, bé cần phát triển hệ xương và hình thành mầm răng sữa, vì vậy ngoài việc bổ sung thực phẩm nhiều canxi, người mẹ phải kết hợp phơi nắng (tránh ánh nắng từ 9h sáng đến 4h chiều) để tăng cường vitamin D giúp hấp thu canxi tối ưu.


Vitamin C: Giúp hỗ trợ phát triển xương sụn, cơ và mạch máu cho bào thai, tạo bánh nhau bền chắc. Nó cũng là một chất chống oxy hóa giúp người mẹ tăng cường sức đề kháng. Vitamin C có trong các loại rau xanh, trái cây…

Theo khám phá

Nước ối đóng một vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển của thai nhi, có chức năng tái tạo năng lượng, duy trì nhiệt độ ổn định trong bụng mẹ, cung cấp dưỡng chất cho thai nhi, tránh được sự chèn ép quá mức bởi các tác động bên ngoài, cho phép em bé di chuyển linh hoạt để cơ bắp và xương phát triển toàn diện, bảo vệ bé khỏi sự xâm nhập của vi khuẩn và nhiều chức năng quan trọng khác cho cuộc sống của thai nhi.

Lượng nước ối của mỗi thai phụ có thể khác nhau và nó cũng tăng giảm tùy thuộc vào thời gian mang thai. Nhưng cũng có trường hợp nước ối trong bụng mẹ quá ít, tiềm ẩn những nguy cơ đối với thai kỳ. Vì vậy, thai phụ cần hiểu rõ để có những cách phòng ngừa và điều trị  thiếu nước ối kịp thời.

Nguyên nhân nào dẫn đến bà bầu ít nước ối?

Không phải lúc nào bác sĩ cũng xác định được rõ ràng nguyên nhân gây ra ít nước ối. Tình trạng này phổ biến nhất vào cuối giai đoạn thai kỳ thứ ba, đặc biệt nếu bạn đã quá ngày dự sinh. Tình trạng này xảy ra càng muộn thì càng có triển vọng cho em bé. Dưới đây là một số nguyên nhân thường gặp nhất:

Bị rò rỉ hoặc vỡ ối

Một vết nứt nhỏ trong màng ối của bạn làm cho nước ối bị rò rỉ ra ngoài. Điều này có thể xảy ra vào bất kỳ thời điểm nào trong thời gian mang thai của bạn, nhưng phổ biến hơn khi bạn sắp chuyển dạ. Bạn có thể tự nhận thấy các chất lỏng bị rò rỉ nếu bạn thấy đồ lót của bạn bị ướt, hoặc bác sĩ phát hiện ra điều đó trong khi khám thai.

Vỡ ối có thể làm tăng nguy cơ nhiễm trùng cho cả bạn và em bé bởi vì nó tạo ra lỗ hổng để vi khuẩn xâm nhập vào túi ối. Đôi khi, vết nứt có thể tự lành và sự rò rỉ sẽ ngừng lại, mức ối sẽ trở lại bình thường. (Điều này thường xảy ra trong trường hợp sự rò rỉ xuất hiện sau khi chọc ối).

Vấn đề của nhau thai

Nguyên nhân ít nước ối có thể do một số vấn đề từ nhau thai gây nên, ví dụ như tình trạng đứt một phần nhau thai khiến em bé không được cung cấp đủ oxy và chất dinh dưỡng ảnh hưởng tới quá trình tái tạo nước ối của bé.

Một số tình trạng sức khỏe của mẹ bầu

Một số tình trạng sức khỏe của thai phụ – chẳng hạn như cao huyết áp mãn tính, tiền sản giật, tiểu đường, và lupus – có thể dẫn đến ít nước ối.

 Mang thai song sinh hoặc đa thai

Bạn có nguy cơ thiếu ối nếu đang mang song thai hoặc đa thai. Chứng thiểu ối có nhiều khả năng xảy ra trong trường hợp bạn mắc hội chứng truyền nước ối giữa hai trẻ song sinh – trong đó một em bé sinh đôi ở trong tình trạng quá ít nước ối, và em bé còn lại thì trong tình trạng thừa ối.

Các bất thường của thai nhi

Nếu bạn được phát hiện có mức nước ối thấp trong giai đoạn thai kỳ thứ nhất hoặc thứ hai, rất có thể em bé của bạn đang mắc phải một khuyết tật bẩm sinh. Nếu thai nhi không có thận hoặc thận không phát triển bình thường hoặc đường tiết niệu bị tắc, em bé sẽ không sản xuất đủ nước tiểu để duy trì lượng nước ối. Một khuyết tật tim bẩm sinh cũng có thể gây ra vấn đề này.

Nguy cơ dẫn đến khi ít nước ối

Các rủi ro liên quan đến ít nước ối phụ thuộc vào tuổi thai.

Nếu thiểu ối được phát hiện trong nửa đầu của thai kỳ thì các biến chứng nghiêm trọng có thể gồm: Túi ối chật chội gây khuyết tật bẩm sinh; Tăng cơ hội sảy thai hoặc thai lưu.

Nếu thiểu ối được phát hiện trong nửa cuối thai kỳ, biến chứng có thể gồm: Hạn chế tăng trưởng ở bào thai; Sinh non; Biến chứng khi chuyển dạ và phải đề nghị mổ đẻ; thậm chí dẫn tới tử vong thai nhi.

Làm thế nào để biết bà bầu bị ít nước ối?

Nước ối quá ít (dưới 600ml) được gọi là ít, có thể dẫn đến sự kém phát triển của phổi, xương và các cơ quan khác của bé, nó cũng làm tăng nguy cơ tử vong của trẻ.

Biểu hiện: Chiều cao tử cung thường nhỏ hơn so với tuổi thai, số đo thường thấp và có chiều hướng đi xuống so với đường chuẩn. Thai thường cử động yếu.

Bác sĩ có thể nghi ngờ vấn đề này nếu bạn đang bị rò rỉ nước ối, chỉ số cân đo của bạn thấp so với thời gian mang thai, hoặc bạn không cảm thấy bé đạp nhiều. Bác sĩ cũng lưu ý nếu trước đây bạn đã từng có một em bé bị hạn chế về tăng trưởng; nếu bạn bị cao huyết áp mãn tính, tiền sản giật, tiểu đường, hay lupus; hoặc nếu đã qua ngày dự sinh của bạn.

Để tìm hiểu điều gì đang xảy ra, bác sĩ sẽ cho bạn siêu âm. Thiết bị sẽ đo lường và xác định chỉ số ối (AFI) của bạn. Một số đo bình thường đối với giai đoạn thai kỳ thứ ba là AFI trong khoảng 5 – 25 cm. AFI < 5 cm được coi là thấp.

Lưu ý để phát hiện sớm ít nước ối

Lượng nước ối có thể lên hoặc xuống thường xuyên tùy thuộc vào tuổi thai; cho nên, người mẹ cần đi khám thai đều đặn và tuân thủ theo lời khuyên của bác sĩ.

Điều trị khi bà bầu ít nước ối

Tùy thuộc vào từng giai đoạn của thai nhi mà có hướng điều trị ít nước ối, hãy để Bác sĩ sẽ theo dõi thai nhi cẩn thận để đảm bảo em bé vẫn tiếp tục phát triển bình thường. Mức độ kiểm soát thai kỳ phụ thuộc vào thời gian mang thai của bạn, mức độ hoạt động của em bé, và liệu bạn có bất kỳ biến chứng nào khác không.

Trong bất cứ trường hợp nào, con bạn nên được theo dõi rất chặt chẽ bằng các kiểm tra áp lực và siêu âm thường xuyên. Bác sĩ sẽ yêu cầu bạn uống nhiều nước, đếm số lần đạp của em bé, và thông báo ngay cho bác sĩ biết nếu bạn nhận thấy bé trở nên ít hoạt động hơn.

Tình trạng thiếu ối ở phụ nữ mang thai được chẩn đoán qua siêu âm. Bác sĩ có thể chỉ định cho thai phụ được truyền dịch vào túi nước ối để duy trì đủ lượng nước ối cần thiết cho sự phát triển của thai.

Một cách khác trong điều trị ít nước ối là bác sĩ truyền dung dịch vào tĩnh mạch cho thai phụ.

Nếu trong 3 tháng đầu: Cần xác định nguyên nhân, có thể chấm dứt thai kỳ một khi phát hiện nguyên nhân từ mẹ hay từ phôi thai, sau đó cần điều trị nguyên nhân một cách triệt để, đặc biệt là bệnh lý từ mẹ.

Nếu trong 3 tháng giữa: cũng cần xác được nguyên nhân, đặc biệt là bệnh lý bất sản hệ niệu của thai nhi hay đi kèm dị tật bẩm sinh nặng cần thiết có thể chấm dứt thai kỳ, một khi đã xác định rõ nguy cơ dị tật nhiều và mức độ nặng.

Nếu trong 3 tháng cuối thai kỳ: nằm nghỉ, uống nhiều nước mỗi ngày trung bình 3 lít nước khoáng hoặc nhập viện truyền dịch để tăng lưu lượng máu đến tử cung. Siêu âm đo chỉ số ối 1 – 2 lần/tuần cho đến lúc sinh. Chấm dứt thai kỳ khi thai được 37 tuần hay các xét nghiệm đánh giá sức khỏe thai không đảm bảo.

Ít nước ối có thể làm tăng nguy cơ gặp phải các biến chứng trong quá trình chuyển dạ. Mối lo ngại chính là lượng chất lỏng sẽ trở nên ít đến mức mà chuyển động của bé hoặc các cơn co thắt của bạn sẽ ép lên dây rốn. Trong quá trình chuyển dạ, bác sĩ có thể đặt một ống thông qua cổ tử cung để bổ sung một lượng dung dịch ổn định nước muối sinh lý ấm vào túi ối, giúp giảm nguy cơ chèn ép lên dây rốn. Nếu em bé không thể chịu được quá trình chuyển dạ bình thường một cách an toàn, bác sĩ hoặc nữ hộ sinh sẽ đề nghị mổ đẻ cho bạn.

Thai phụ gặp tình trạng ít nước ối sẽ được truyền dung dịch đường nhằm khôi phục tuần hoàn tử cung rau.

Bác sĩ cũng khuyến cáo để tăng lưu lượng tuần hoàn đến tử cung, tăng nước ối, thai phụ cần uống nhiều nước, có thể uống gấp rưỡi so với bình thường, uống thêm sữa, nước dừa, nước cam, chanh và ăn uống bồi bổ để có đủ dưỡng chất tạo nước ối.

Các thai phụ hãy chú ý những biểu hiện trên cơ thể mình để có thể phát hiện sớm nhất các hiện tượng thiếu nước ối, nhanh chóng kịp thời khắc phục để cho em bé được khỏe mạnh, an toàn nhất nhé và hãy đồng hành cùng mecuti.vn để biết nhiều hơn thông tin về sức khỏe sinh sản và chăm sóc trẻ em nhé.

Theo sức khỏe đời sống


Nếu sinh con so, từ cuối tháng thứ 4, đầu tháng thứ 5 của thai kỳ, người mẹ đã có cảm giác thai máy (thai nhi cử động, búng nhẹ vào thành bụng, tạo cảm giác giống như sôi ruột). Với người sinh con rạ, hiện tượng này sẽ xuất hiện sớm hơn khoảng 2 tuần. Nếu không thấy thai máy, thai phụ nên đến bệnh viện để kiểm tra.


Thai phụ cần được quan tâm, chăm sóc nhiều hơn bình thường.

Sau đây là một số vấn đề khác thường xảy ra trong thời gian mang thai:

1. Thèm ăn hay chán ghét một (hoặc nhiều) thức ăn:

Đó là dấu hiệu của chứng ốm nghén, thường bắt đầu từ tháng thứ 2 đến cuối tháng thứ 3 của thai kỳ. Có người ốm nghén sớm hoặc muộn hơn. Có người vừa mang thai đã nghén và hiện tượng này kéo dài cho đến khi sinh. Nghén khiến bà mẹ không ăn uống được và nôn mửa nhiều. Hiện tượng sinh lý này thường tự khỏi mà không cần điều trị. Thai phụ vẫn có thể làm giảm sự khó chịu bằng các biện pháp sau:

- Tránh không để đói nhưng đừng ăn quá no. Đói làm hạ đường máu và khiến thai phụ dễ nôn mửa hơn. Nên ăn từ khi sáng sớm và lúc nào cũng nên ăn hoặc ngậm lặt vặt một thứ gì đó. Khi có cảm giác rất thèm thứ đồ ăn nào, cũng không nên ăn nhiều một lần, chỉ nên ăn từng tí một, chia làm nhiều lần.

- Tránh dùng thức ăn khó tiêu, ăn nhiều rau sạch và trái cây tươi.

- Nên chia 3 bữa chính thành 6-7 lần ăn. Điều này giúp thai phụ dễ tiêu hóa, không có cảm giác no hơi, chán ăn.

Nếu nôn mửa quá nhiều, nên đến các trung tâm y tế để truyền dịch nhằm bù nước hoặc uống thuốc chống nôn.

2. Rối loạn tiêu hóa: 

Trong suốt thai kỳ, người phụ nữ thường bị táo bón, ăn không tiêu, dễ tiêu chảy. Nên dự phòng bằng cách ăn nhiều rau xanh, trái cây, giữ vệ sinh thực phẩm.

3. Rối loạn tiết niệu: 

Vào những tháng cuối của thai kỳ, các bà mẹ thường đi tiểu nhiều lần. Nguyên nhân là tử cung lớn lên, chèn ép bàng quang. Đồng thời, dưới tác dụng của chất nội tiết thai nghén, nước tiểu được bài tiết nhiều hơn. Gần đến ngày sinh, thai nhi (nhất là phần đầu) sẽ lọt vào tiểu khung của người mẹ, chèn ép vào bàng quang khiến người mẹ cảm thấy buồn đi tiểu suốt ngày.

4. Tăng cân: 

Trong 3 tháng đầu tiên, do nghén nên thai phụ có thể không tăng cân, thậm chí tụt cân. Sau 3 tháng, do đã hết nghén, cơ thể thích hợp dần với việc mang thai nên thai phụ bắt đầu tăng cân. Lượng tăng cân trung bình cho toàn bộ thai kỳ là 12-13 kg. Nếu tăng cân ít, thai nhi có thể bị suy dinh dưỡng, nhẹ cân; người mẹ không dự trữ đủ năng lượng cho bản thân khi sinh và không đủ sữa cho con bú. Nhưng nếu tăng cân quá nhiều, sản phụ sẽ khó sinh và dễ bị béo phì sau khi sinh.

5. Cảm cúm: 

Khi có thai, người mẹ phải tránh tiếp xúc với những người bị cảm cúm. Nếu mắc bệnh, nên đi khám ngay, không tự ý dùng thuốc kẻo gây nguy hiểm cho thai nhi.

6. Những thay đổi bất thường:

ra máu âm đạo, ra nước (có thể do vỡ ối), ra nhiều khí hư ngứa rát, có mùi chua; nhiễm nấm, đau bụng... Khi có các hiện tượng trên, thai phụ cũng cần đến bệnh viện kiểm tra ngay.

Về việc giao hợp, nên nhẹ nhàng và ít thường xuyên hơn. Không nên giao hợp vào tháng cuối thai kỳ để tránh vỡ ối non, nhiễm trùng. Đối với bà mẹ có tiền căn sẩy thai, cần tránh giao hợp trong 3 tháng đầu của thai kỳ.



Theo thanh niên


Dưới đây là 15 điều đáng kinh ngạc về thai nhi không phải ai cũng biết nhé!

1. Nhịp tim của thai nhi đập rõ rệt nhất chỉ vào tuần thứ 6 thai kỳ.
2. Tất cả các bộ phận chính của bé (tim, phổi, thận, não và ruột) được hình thành và đi vào phát triển từ tuần thứ 10 thai kỳ – lúc này bé mới chỉ bằng một quả chanh.
3. Em bé khi sinh ra sẽ có đến 300 chiếc xương riêng biệt, một trong những xương này sẽ dính vào nhau trong quá trình bé lớn lên. Trong khi người lớn chúng ta chỉ có 206 xương.
4. Chuyển động của em bé đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển, giúp định hình các cấu trúc trong cơ thể.


15 điều kinh ngạc hình thành thai nhi trong quá trình mang thai mẹ cần biết
5. Em bé có thể nhận ra giọng nói của mẹ khi vừa sinh ra.
6. 10 tuần – mốc thời gian mà em bé đã hoàn thành giai đoạn quan trọng nhất trong quá trình phát triển.
7. Mẹ sẽ không thể cảm nhận được những chuyển động của bé nhưng ở  tuần thứ 10, nếu mẹ chạm vào bụng, em bé sẽ phản ứng lại bằng cách chuyển động hoặc nhào lộn trong bụng.
8. 13 tuần, thai nhi đã có dấu vân tay riêng biệt của mình.
9. Với một thai nhi mang giới tính nữ: đến 18 tuần, tử cung và ống dẫn trứng đã được hình thành và phát triển khá hoàn thiện.
10. Đến tuần thứ 23, em bé của mẹ sẽ bị giật mình nếu nghe thấy âm thanh, tiếng động to, đột ngột từ bên ngoài.
11. Khi tử cung chuyển động một cách nhẹ nhàng, đều đặn là lúc em bé đang nấc.
12. Vào khoảng tuần thai thứ 27, thai nhi sẽ bắt đầu tập thở, mặc dù phổi lúc này vẫn chứa nước ối.
13. 28 tuần, thai nhi sẽ có thể ngửi thấy những mùi tương tự như mẹ ngửi thấy.
14. Khi em bé mới sinh ra, đôi mắt sẽ bằng 75% kích cỡ khi trưởng thành.
15. Chỉ có 5% trẻ sơ sinh được sinh ra đúng ngày dự sinh.


Theo sức khỏe đời sống

 1 - 2 ngày đầu sau khi sinh, tốt nhất sản phụ nên ăn các loại thức ăn nhẹ, dễ tiêu như: cháo, mì, trứng gà là chính.

Ngày nay, các bà mẹ trẻ sau khi sinh con vừa mong nhanh chóng khôi phục tuổi xuân đã qua, giữ được cơ thể khoẻ mạnh, lại sợ ăn nhiều quá sẽ bị béo. Vậy ăn thế nào? Và ăn cái gì mới được coi là khoa học và đầy đủ dinh dưỡng?

Thực đơn của sản phụ cần chú ý những gì?

Sau khi sinh con phải chú ý đến chế độ dinh dưỡng trong ăn uống, đây là điều mà ai cũng biết. Nhưng trong 1 - 2 ngày đầu sau khi sinh, tốt nhất nên ăn các loại thức ăn nhẹ, dễ tiêu như: cháo, mì, trứng gà là chính. Không nên ăn thức ăn có nhiều mỡ như: chân giò, thịt gà mái. Cùng với sự hồi phục của khả năng tiêu hoá có thể ăn những thức ăn giàu năng lượng và dinh dưỡng: canh gà, canh xương....

Để đảm bảo người mẹ nạp đủ dinh dưỡng gồm protein, chất béo, đường, chất khoáng, vitamin, nước, trong ăn uống cần chú ý là thức ăn phải đa dạng, phối hợp thức ăn tinh và thô một cách hợp lý. Mỗi ngày có thể ăn 5 - 6 bữa, người mẹ không nên kiêng cữ quá nhưng tránh đồ ăn sống, nhiều mỡ, cay, có tính kích thích. Trong thời gian cho con bú, rượu, hút thuốc phải kiêng tuyệt đối. Một số bà mẹ có di chứng cao huyết áp trong thời kỳ mang thai cần phải ăn hạn chế muối.

Những bà mẹ bị rách tầng sinh môn và phải khâu, nên ăn thức ăn ít chất bã, chia nhỏ bữa ăn, 5 - 6 lần/ngày, ăn trong 3 ngày. Những bà mẹ phải mổ đẻ, sau khi mổ, công năng đường ruột đã hồi phục (khoảng 24 tiếng sau mổ) có thể áp dụng chế độ ăn từng lỏng đến đặc dần. Sau khi người mẹ có thể tự đi đại tiện được, có thể ăn chế độ bình thường.

Một số thức ăn có lợi cho sản phụ

Đường là một trong những chất dinh dưỡng mà cơ thể người cần, sau khi ăn, qua quá trình tiêu hóa, đường sẽ biến đổi, được cơ thể người hấp thu, giải phóng ra nhiệt lượng. Đường đỏ có tính ôn, ích khí, kiện tì ôn vị, tản hàn, hoạt huyết, dễ tiêu hóa, giảm đau, sinh sữa. Dân gian thường dùng đường đỏ để điều trị các chứng đa, băng huyết, huyết áp cao sau đẻ và bị lạnh. Do có nhiều tác dụng dinh dưỡng như vậy nên các sản phụ ăn nhiều đường đỏ là rất có ích.


Thịt cá chép giúp nâng cao sức co bóp của cơ tử cung

Người già thường hay khuyên sản phụ nên ăn nhiều cá chép trong thời gian “nằm chỗ”. Vậy ăn các chép có lợi gì? Thịt cá chép có thể trục máu dư, máu dư ở đây chủ yếu là máu đẻ. Do thịt cá chứa nhiều protid, có thể thúc đẩy tử cung co bóp, nâng cao sức co bóp của cơ tử cung. Khi tử cung co bóp, các sợi cơ sẽ co ngắn lại, ép lên mạch máu giúp cho máu đẻ và dịch dính trong âm đạo ra ngoài cơ thể.

Theo Đông y, cá chép tính bình vị ngọt, có lợi cho tiểu tiện, có tác dụng giải độc, có thể điều trị các bệnh xơ gan, bụng trướng, phụ nữ băng huyết, sau khi sinh không có sữa. Dùng một con cá chép tươi khoảng 500g, nấu chín với rượu vang, hoặc mổ cá bỏ nội tạng, sấy khô và ngiền thành bột, dùng hàng ngày với rượu vang để điều trị chứng ứ máu tử cung. Cá chép còn có tác dụng thúc đẩy sự tiết sữa, do vậy sau khi sinh con, người mẹ ăn cá chép là rất hợp lý
.
Tại sao các sản phụ hay được khuyên ăn trứng gà?

Thành phần dinh dưỡng trong trứng gà rất phong phú, cách nấu đơn giản, vừa kinh tế lại vừa thực tế, đồng thời trứng gà chứa nhiều protein được cơ thể người hấp thu, là loại thực phẩm tốt cho người mẹ bồi dưỡng. Trong trứng gà chứa chất thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức não, có thể nhanh làm lành vết thương ở các cơ quan. Người mẹ ăn nhiều trứng gà sẽ có lợi cho việc nuôi con bằng sữa và sự phục hồi công năng của các tổ chức, bé bú sữa mẹ giúp các tế bào não của bé tăng trưởng, giúp bé càng thông minh, khoẻ mạnh. Sau khi ăn trứng gà có thể thúc đẩy lượng sữa tiết ra. Người mẹ mỗi ngày ăn 4 quả trứng là thích hợp, không nên ăn nhiều quá ảnh hưởng đến việc tiêu hóa.

Kết quả hình ảnh cho trứng gà

Trứng gà sẽ có lợi cho việc nuôi con bằng sữa và sự phục hồi công năng của các tổ chức


Ăn hoa quả như thế nào sau đẻ cho có lợi?

Sau khi sinh con, hàng ngày người mẹ đều có thể ăn hoa quả. Nếu người mẹ bị táo bón, thì mỗi ngày ăn một quả chuối tiêu cũng có tác dụng tốt, theo một số tài liệu, ăn chuối tiêu còn có tác dụng giảm căng thẳng thần kinh. Có những sản phụ sau sinh không muốn ăn, thì việc ăn hoa quả cũng giúp ích cho tiêu hoá. Quả sơn tra vừa chua vừa ngọt sau khi ăn sẽ làm tăng cảm giác thèm ăn, có lợi cho tiêu hóa, thúc đẩy tử cung co bóp tống máu đẻ ra ngoài. Đồng thời hoa quả bổ sung sự thiếu hụt vitamin trong cơ thể mẹ. Nhưng người mẹ không nên ăn quá nhiều loại hoa quả chua, lạnh, đề phòng chất toan làm hại răng và dạ dày bị kích thích bởi thức ăn lạnh.

Dựa vào thể chất để lựa chọn thức ăn thế nào?

Với người tinh huyết hư tổn: sau khi sinh con, nếu người mẹ thấy có các triệu chứng như hoa mắt chóng mặt, tim đập loạn nhịp, mất ngủ, tê chân tay, sắc mặt vàng hoặc trắng nhợt, da sạm và thô ráp, môi và móng chân móng tay đều trắng nhợt, hoặc lúc bình thường cơ thể hư nhược, nên lựa chọn ăn loại thức ăn sau:

- Thịt: thịt lợn, chân giò, tim gan lợn, con hàu, thịt ba ba, thịt rùa, lươn, các chép, hải sâm.
- Đường: đường trắng, đường phèn, các loại đường hoa quả.
- Rau: đậu côve, đậu đũa, đậu tằm, đậu phụ, giá đỗ, mọc nhĩ, ngó sen, mướp, rau chân vịt, mộc nhĩ trắng, củ cải, cà rốt, nấm hương, khoai tây, khoai sọ, khoai lang, đậu xanh, đậu đen.
- Hoa quả: nho, táo, cam, đào, dứa, chuối tiêu, hồng.

Với người âm hư hỏa vượng: nếu trong quá trình sinh con, người mẹ ra quá nhiều máu, tinh huyết hao tổn dẫn đến âm hư hỏa vượng, thấy có các triệu chứng chóng mặt ù tai, mặt đỏ, ruột gan nóng, ra mồ hôi trộm, mất ngủ, tiểu rắt, táo bón, hoặc được các thầy thuốc chẩn đoán là âm hư hỏa vượng, ngoài các thức ăn bổ máu như đã nêu ở trên còn có thể lựa chọn các loại thức ăn thanh nhiệt dưới đây:

- Thịt: thịt thỏ, gan thỏ, bồ câu, thịt lợn, thịt vịt.
- Rau: rau dền, rau cần, rau kim châm, bí đao, mướp, dưa chuột, cà chua, mướp đắng, tâm sen, lá sen.
- Hoa quả: lê, dưa hấu, chà là, hồng.

Với người dương khí hư nhược: nếu người mẹ sau khi sinh thấy có các triệu chứng nhức mỏi eo lưng, lạnh bụng và chân tay, lạnh và đau bụng dưới, chóng mặt ù tai, tiểu nhiều trong đêm, hoặc được bác sĩ chẩn đoán là dương khí hư nhược thì nên chọn các loại thức ăn có tính ôn bổ ích khí cường dương dưới đây:

- Thịt: thịt dê, móng dê, sữa dê, thịt hươu, thịt chó, ba ba, rùa, tôm tươi, gan lợn, lươn.
- Đường: đường mía, mật ong, đường cát.
- Rau: hành, hẹ, tỏi, hành tây, đậu vàng, mộc nhĩ, đậu đen, vừng, củ cải, bí đỏ, hồi hương.
Hoa quả: hạch đào, long nhãn, táo ta, vải, mía, quýt, anh đào.



Theo sức khỏe đời sống

Sinh con với những cơn đau đẻ dữ dội là nỗi lo của nhiều mẹ bầu. Để giảm bớt khó khăn khi sinh con, mẹ bầu nên áp dụng các cách kích thích chuyển dạ.

1. Quan hệ vợ chồng

Ở những tháng cuối thai kỳ, có thể mẹ bầu không còn hứng thú với “chuyện yêu”. Tuy nhiên nhiều nghiên cứu khẳng định, gần gũi chồng là cách để phụ nữ mang thai bắt đầu kích thích chuyển dạ tự nhiên.

Trong tinh trùng có một số chất giúp làm mềm tử cung; và Oxytocin – một loại hormon được sinh ra khi bạn “lên đỉnh” – có tác dụng làm tăng các cơn co và qua đó “hối thúc” bé ra đời. 


Quan hệ vợ chồng là một trong những cách kích thích chuyển dạ tự nhiên

Tuy nhiên, nếu mẹ bầu nên kiêng cữ “chuyện ấy” nếu mắc bệnh trong khi mang thai. Bởi nếu quan hệ khi nước ối bị vỡ có thể gây nhiễm trùng túi ối.  

2. Kích thích vùng ngực

Tương tự như khi quan hệ, oxytocin sẽ được sản sinh khi bạn dùng lòng bàn tay xoa tròn lên núm vú và cả quầng vú. Hormone oxytocin được giải phóng có tác dụng kích thích tử cung co bóp, giúp mẹ bầu chuyển dạ một cách tưh nhiên.

Theo cách này, mẹ bầu cần kích thích núm vú trong khoảng 15 phút và lặp lại thường xuyên trong suốt cả ngày. Tuy nhiên, mẹ bầu chỉ nên làm việc này dưới sự hướng dẫn của nhân viên y tế.

Cách kích thích chuyển dạ tự nhiên giúp mẹ dễ sinh2

Mẹ bầu có thể kích thích vùng ngực để hỗ trợ chuyển dạ

3. Ăn cay

Về lý thuyết, các gia vị cay có thể kích thích ruột, từ đó tạo phản ứng dây chuyền tới tử cung và gây co bóp chuyển dạ. Tuy nhiên, mẹ bầu cũng không cần cố sức ăn quá cay, bạn chỉ nên ăn cay dựa trên “sức chịu đựng” của bản thân. Nếu bị ợ nóng hoặc không quen dùng các thức ăn cay nóng thì mẹ nên thận trọng và lựa chọn cách kích thích chuyển dạ khác

4. Ăn dứa

Dứa chứa nhiều enzyme Bromelain – giúp kích thích và làm mềm tử cung, thúc đẩy chuyển dạ tự nhiên. Để nhận thấy tác dụng của dứa đối với việc kích thích chuyển dạ, bạn cần ăn một lượng dứa khá lớn. Tuy nhiên, trên thực tế không phải mẹ bầu nào cũng làm được điều này.

Khi ăn dứa, mẹ bầu cần tránh những sai lầm nguy hiểm, ảnh hưởng tới sức khỏe: Những sai lầm nguy hiểm khi ăn dứa mà bạn nên biết.

Cách kích thích chuyển dạ tự nhiên giúp mẹ dễ sinh3

Ăn nhiều dứa giúp kích thích chuyển dạ tự nhiên

5. Trà lá cây mâm xôi

Theo một số nghiên cứu khoa họccác chất trong trà lá cây mâm xôi có tác dụng kích thích cơ tử cung chuyển bị cho chuyển dạ. Những mẹ bầu thường xuyên uống trà lá mâm xôi trong những tuần cuối thai kỳ có cơn chuyển dạ nhanh hơn. Tuy nhiên, mẹ bầu chỉ nên uống loại nước này từ tuần 34 trở đi, mỗi ngày một cốc.

6. Đi bộ

Đi bộ là cách kích thích chuyển dạ tự nhiên được nhiều mẹ bầu áp dụng. Việc đi bộ sẽ giúp đẩy em bé xuống dưới gần tử cung của bạn hơn. Do đó, mẹ bầu nên chăm chỉ đi bộ khi gần đến ngày dự sinh. Nếu cảm thấy mệt, mẹ bầu nên đi thong thả và chia thành nhiều quãng đường nhỏ bởi đây là thời điểm bạn cần giữ sức để chuẩn bị cho kỳ sinh nở vất vả sắp tới.

Kết quả hình ảnh cho bà bầu đi bộ

Các mẹ bầu nên đi bộ để sinh con dễ dàng hơn


Bloglamme.net tổng hợp

Bloglamme.net-Đi bộ là một trong ít những hoạt động nhẹ nhàng giúp bà bầu vận động trong thời kì mang thai, đi bộ vừa mang lại lợi ích cho sức khỏe mà không ảnh hưởng đến thai nhi. Tuy nhiên, những tháng cuối cùng của quá trình mang thai, cơ thể đã có phần nặng nề liệu rằng đi bộ có còn tác dụng hay mang lợi ích, bà bầu có nên đi bộ vào thời gian này? 


Vì sao mẹ bầu mang thai tháng thứ 8 nên đi bộ?
Là một bài tập rất tốt cho tim mạch, giú cơ bắp săn chắc, ngăn chặn tình trạng thừa cân, đái thao đường…Đi bộ được xem là một trong những hoạt động an toàn và có lợi nhất đối với bà bầu, hoạt động này có thể suy trì được trong suốt quá trình mang thai.

Kết quả hình ảnh cho bà bầu đi bộ

Ngoài ra, theo các chuyên gia sinh sản thì nếu bà bầu đi bộ thường xuyên có thể giúp quá trình” vượt cạn” dễ dàng hơn bao giờ hết, quá trình ” vươt cạn” của những bà bầu thường xuyên đi bộ sẽ nhẹ nhàng hơn những bà bầu lười vận động.

 Tư thế đi bộ chuẩn cho những bà bầu ở tháng thứ 8?

Tư thế đi bộ cũng rất quan trong, bởi lẽ nếu chúng ta đi bộ không đúng cách sẽ không đem lại hiệu quả như mong đợi, vậy tư thế đi bộ nào là đúng cách? Tư thế đi bộ đúng cách là mắt nhìn thẳng về phía trước, cằm đặt song song với mặt đất, toàn thân cần được thư giãn và thả lỏng nhất có thể. Dáng đứng đi thẳng không được chúi về phía trước hay ngả ra sau. hai tay có thể vung nhẹ nhàng và quan trọng phải hít thở thật đều và sâu.

Kết quả hình ảnh cho bà bầu đi bộ

Tốc độ di chuyển vừa phải không nhanh quá hoặc chậm quá, tốc độ đi giúp bà bầu thoải mái nhất là được. Ngoài ra, vừa đi bộ các bà bầu có thể thực hiện các động tác như xoay cố tay, cố chân và khởi động khớp vai.

Bà bầu mang thai tháng thứ 8 nên đi bộ bao lâu là đủ ?

Thông thường thì thời gian đi bộ lý tưởng nhất đó là 20 phút 9 thời gian này không tính thời gian khoải động) Thời gian đi bộ này sẽ giúp các chị em tăng được lượng máu trong cơ thể, lượng oxy cung cấp cho cơ thể nhiều hơn.

Đế ở những tháng mang thai tiếp theo, thai nhi bắt đầu lớn và việc đi bộ cũng trở nên khó khăn hơn. Tuy nhiên, nếu khỏe thì các chị em có thể giữ nguyên thời gian đi bộ là 20 phút như trong những tháng mang thai đâu tiên. Tuy nhiên, các bà bầu không nên đi quá nhanh, gây ra tình trạng quá sức sẽ không tốt xíu nào đến sức khỏe mẹ và thai nhi.


Kết quả hình ảnh cho bà bầu đi bộ 

Ở tháng 8 thì bà bầu có thể đi bộ nhưng thời gian đi bộ không cố định, tùy theo sức khỏe mà bà bầu có thể đi được bao nhiêu thì tùy. Trong thời gian này thai nhi đã khá lớn nên cơ thể của bà bầu trở nên nặng nhọc vì vậy nếu quá trình đi bộ bà bầu cần đi với chồng hoặc người thân để an toàn hơn.

Bà bầu mang thai tháng thứ 8 khi đi bộ cần lưu ý những gì?

Giày – tưởng chừng như không quan trọng nhưng chúng lại vô cùng quan trọng, khi đi bộ các bà bầu cần lựa chọn được những đôi giày thể thao có chất lượng tốt, đảm bảo vừa vặn chân, ôm trọn chân. Những đôi giày quá chật sẽ khiến chị em khó chịu trong khi di chuyển, gây ra đau nhức bàn chân và các khớp ngón chân. Còn nếu đi những đôi giày quá rộng sẽ rất dễ khiến bà bầu trượt ngã.

Kết quả hình ảnh cho bà bầu đi bộ

Khi đi bộ các mẹ bầu cũng cần chú ý đến lam da của mình nhé! Việc bảo vệ làn da của mình là điều cần thiết, các bà bầu có thể thoa kem chống nắng để bảo vệ da. Ngoài ra, khi đi bộ các mẹ bầu nhớ mang đầy đủ nước để tránh tình trạng mất nước cho cơ thể, mất nước sẽ gây ra co thắt và khiến cơ thể tăng nhiệt.

Và có thể bà bầu sẽ gặp những nguy hiểm. Bà bầu không được đi bộ vào trời nắng gắt, thời gian đi bộ hợp lý và tuyệt vời nhất là buổi sáng sớm, bà bầu cũng có thể đi dạo vào buổi chiều mát cũng rất tốt.

❋ Bà bầu mang thai tháng thứ 8 nên dừng đi bộ khi nào?

Bà bầu sẽ dừng đi bộ khi gặp bất cứ triệu chứng nào liên quan đến sức khỏe, lúc này các bà bầu phải nhanh chóng tìm đến bác sĩ để không gặp phải những vấn đề nguy hiểm cho thai nhi và mẹ.
Những tháng mang thai cuối cùng là thời gian quan trọng các bà bầu cần chú ý đến sức khỏe, trong chế độ ăn cũng như trong các hoạt động thường ngày để đảm bảo một sức khỏe tốt nhất đến ngày ” vượt cạn”. Hy vọng bài viết Mang thai tháng thứ 8 có nên đi bộ  đã chia sẻ được cho các bạn những thông tin bổ ích. Hãy thường xuyên vào suckhoebabau.vn để đọc những bài viết hay và bổ ích nhé! Chúc các bà bầu và bé luôn khỏe.



Theo khampha.vn

Nghiên cứu mới công bố đã đảo ngược quan điểm bà bầu nên uống vitamin tổng hợp để tốt cho thai nhi. Theo một số nhà khoa học, làm việc này chỉ phí tiền vô ích.



Theo các nhà nghiên cứu Anh, thay vì dùng vitamin tổng hợp và khoáng chất bổ sung, phụ nữ mang thai nên tập trung vào việc nâng cao chất lượng tổng thể bữa ăn  và chỉ cần bổ sung acid folic và vitamin D.

"Chúng tôi không tìm thấy bất cứ bằng chứng nào để khuyên các thai phụ cần bổ sung vitamin, khoáng chất ngoài acid folic vitamin D, những loại được bán với giá khá thấp", nhóm tác giả nghiên cứu đăng tải bài viết trên tạp chí Dược phẩm và chữa bệnh (Anh). 

Mặc dù bổ sung vitamin tổng hợp thường được các hãng sản xuất quảng cáo như cách giúp trẻ có sự khởi đầu tốt nhất trong cuộc sống. Tuy nhiên, kiểu tiếp thị này không thực sự mang lại sức khỏe tốt hơn cho thai phụ và em bé.

Ví dụ dưới góc độ y khoa, khi mang thai nếu mẹ dùng quá nhiều vitamin A có thể gây nguy hiểm cho em bé.

Trong khi đó, ăn các thực phẩm lành mạnh trước và trong lúc mang thai đóng vai trò sống còn với bà mẹ. Chế độ ăn cân bằng cho thai phụ gồm các loại thực phẩm thuộc 5 nhóm: ngũ cốc, trái cây, rau quả, thực phẩm giàu protein và sữa. 

Ở nghiên cứu mới nói trên, các nhà khoa học đã xem xét tác động của việc bổ sung vitamin tổng hợp - loại mà nhiều hãng sản xuất tung hô là "thần dược" giúp bà bầu chống lại mọi vấn đề sức khỏe.

Vitamin tổng hợp thường kết hợp nhiều loại vitamin và khoáng chất, chẳng hạn như vitamin B1, B2, B3, B6, B12, C, D, E và K, cùng với acid folic, iốt, magiê, sắt, đồng, kẽm...

Kết quả cho thấy, ngoại trừ acid folic và vitamin D, không có bằng chứng cho thấy các thai phụ được hưởng bất kỳ lợi ích lâm sàng nào từ việc dùng những chất bổ sung khác và gây lãng phí vô ích.

Tiến sĩ Janet Fyle thuộc trường đào tạo nữ hộ sinh Hoàng gia Anh, khuyến cáo thêm: “Chúng tôi khuyên các phụ nữ có thai hoặc có ý định mang thai nên ăn uống đa dạng, lành mạnh gồm trái cây và rau quả tươi, kèm theo bổ sung folic acid. Chúng tôi cũng nhấn mạnh rằng bà bầu không cần ăn cho hai người. Tất cả những gì họ cần là một chế độ ăn với số lượng thực phẩm cân bằng bình thường”.


Theo Vietnamnet.vn


1, Kích thước bàn chân tăng

Bàn chân của bạn sẽ dài ra thêm 10 mm (còn lớn hơn một cỡ giày) bởi khi mang thai, các dây chằng sẽ căng ra và làm mất độ cong bình thường của vòm bàn chân. Kể cả khi em bé đã được sinh ra thì bàn chân bạn vẫn chưa trở về kích cỡ bình thường.  

2, Số lượng tế bào não giảm

Do sự thay đổi về hormone trong giai đoạn thai kì, số lượng tế bào não sẽ giảm khoảng 4% so với khi cơ thể ở trạng thái bình thường, là nguyên nhân gây ra chứng hay quên khi mang thai. Tuy nhiên, bạn cũng đừng lo lắng bởi chỉ vài tháng sau khi sinh em bé, số lượng tế bào não sẽ nhanh chóng tăng lên như lúc đầu.

3, Tóc ngừng rụng

Khi mang thai, tóc của bạn sẽ ngừng rụng một thời gian khiến bạn cảm giác tóc dày hơn, rồi sau đó sẽ quay trở lại với chu kì mọc và rụng bình thường. Trong khoảng thời gian này, bạn cũng sẽ thấy có nhiều lông mọc trên má, cằm, mép, cánh tay và cẳng chân hơn mọi khi.

4, Hành động bất tiện

Hiện tượng giãn khớp, phù nề cùng với trọng tâm cơ thể thay đổi khi mang thai là những nguyên nhân khiến cho mẹ bầu đi đứng bất tiện.

5, Khứu giác nhạy bén hơn

Do hàm lượng estrogen trong cơ thể tăng cao khi có em bé, khứu giác của bạn sẽ trở nên nhạy bén hơn. Theo nhận định của một số nhà khoa học, những người có khứu giác nhạy bén hơn thường ngày là những người có triệu chứng ốm nghén buổi sáng.

6, Cảm giác có vị kim loại trong miệng

Nguyên nhân của triệu chứng này cũng là do hàm lượng estrogen tăng cao khi mang thai. Triệu chứng này rõ ràng nhất trong ba tháng đầu của thai kì, khi lượng estrogen đạt mức cao nhất.

7. Đầy bụng, khó tiêu

Khi mang thai, lượng hormone progesterone và relaxin trong cơ thể tăng cao, khiến cho các cơ trong cơ thể được thư giãn, bao gồm cả các cơ ở đường ruột và dạ dày, làm chậm quá trình tiêu hóa và gây ra chứng đầy hơi.


Theo phụnutoday

Bác sĩ Phan Văn Quý, Trưởng khoa điều trị tự nguyện, BV phụ sản Trung Ương sẽ giải đáp những thắc mắc thường gặp về mổ đẻ


Ảnh sưu tầm

Nếu lần đầu đẻ mổ thì các lần sau cũng phải đẻ mổ?
Không hoàn toàn đúng. Hiện nay tỷ lệ mổ đẻ lại lần 2 tại bệnh viện phụ sản Trung Ương là 70% đến 80%, có nghĩa là khoảng 20% sản phụ mổ đẻ lần một thì lần thứ hai vẫn có thể đẻ thường được. Nhưng lần đẻ này phải có sự can thiệp của thầy thuốc sản khoa (đẻ focxép)

Nếu đẻ mổ chỉ có thể sinh (sanh) tối đa 3 lần?
Chỉ đúng một cách tương đối – vì nếu phải mổ đẻ nhiều lần (trên 3 lần) thì nguy cơ nứt sẹo cho những lần mang thai tiếp theo là rất cao, hơn nữa nếu đã có ba con khỏe mạnh thì lần mổ thứ ba nên đình sản (điều này rất phù hợp với chính sách dân số Việt Nam hiện nay).

Những em bé đẻ mổ sẽ Thông minh hơn những em bé đẻ thường do không phải "chiến đấu" để chào đời?
Hoàn toàn sai vì không có cơ sở khoa học nào chứng minh điều đó.

Khoảng cách an toàn giữa hai lần đẻ mổ là 5 năm?
Các thầy thuốc sản khoa khuyên các bà mẹ mổ đẻ lần thứ nhất thì tốt nhất sau 3-5 năm mới sinh (sanh) con tiếp theo. Vì sau 3-5 năm cơ thể người mẹ mới Bình phục tốt sau thai kỳ và nuôi con nhỏ và khoảng thời gian đó đủ để vết sẹo ở tử cung người mẹ Bình phục tốt.

Trong khi mang thai mà phát hiện thai phụ có u xơ tử cung thì nhất định khi đẻ mổ?
Không hoàn toàn đúng. Điều này còn phụ thuộc vào vị trí của khối u, kích thước khối u...Nếu khối u to, khối u nằm ở eo tử cung làm cản trở đường ra của thai nhi thì phải mổ lấy thai. Nhưng nếu u xơ nhỏ, nằm ở đáy tử cung thì vẫn có thể để thường. Tuy nhiên khi có u xơ tử cung và có thai thì cần được quản lý, theo dõi ở các cơ sở y tế có trình độ chuyên môn cao.

Những sản phụ đẻ mổ có nhiều khả năng dễ bị dị ứng với các protit lạ, ví dụ sau khi sinh (sanh) mổ uống sữa tươi dễ bị tiêu chảy?
Điều này hoàn toàn sai. Sau khi đẻ mổ người phụ nữ thường có thời gian liệt ruột cơ năng, nên bụng bị chướng hơi. Khi chưa thông ruột (chưa trung tiện) mà uống sữa sẽ dễ bị tiêu chảy. Khi đã có trung tiện (hết liệt ruột) thì người phụ nữ đẻ mổ có thể ăn uống Bình thường.

Có thể đăng ký mổ đẻ chủ động và chọn bác sỹ theo yêu cầu?
Trong một số trường hợp cụ thể có thể thực hiện được. Ví dụ thai phụ có vết mổ đẻ qúa sớm (ít hơn 24 tháng), mổ cũ với thai ngược, mổ cũ với thai qúa to (từ khoảng 3500gr trở lên), thai phụ có tiền sử chửa đẻ rất khó khăn (thụ tinh ống nghiệm) ....

Để có vết sẹo đẹp, không lồi sau khi sinh (sanh) tuyệt đối không được ăn thịt gà, trứng, rau muống?
Điều này không đúng. Sẹo đẹp hay sẹo lồi là do cơ địa của mỗi sản phụ chứ không phải do người mổ hay chế độ ăn uống kiêng khem sau mổ .

Trung Bình độ dài vết sẹo là 12 cm?
Hiện nay không có qui định nào về độ dài của vết sẹo. Người phẫu thuật viên có thể quyết định độ dài của vết mổ. Độ dài vết mổ phải thích hợp để khi lấy thai nhi ra khỏi bụng mẹ được tiện lợi nhất (đặc biệt trong trường hợp phải lấy thai ra khẩn cấp)

Tất cả phụ nữ có vóc dáng nhỏ bé, mông và hông hẹp có khả năng đẻ mổ cao?
Điều này gần đúng. Tuy nhiên trong lúc chuyển dạ người thày thuốc sản khoa phải khám một cách tỷ mỉ, đo các số đo của khung chậu người mẹ, ước tính đúng trọng lượng của thai nhi... Nếu trọng lượng của thai nhi không quá to so với các số đo của khung chậu mẹ thì các thầy thuốc vẫn có thể thử thách cho đẻ đường dưới.

Những sản phụ sinh mổ sẽ rất ít sữa hoặc hoàn toàn không có sữa cho con bú?
Điều này không đúng. Sinh mổ không ảnh hưởng đến vấn đề tiết sữa của các bà mẹ mà chỉ không thật thuận tiện cho việc con bú trong những ngày đầu do vết mổ còn đau và người còn yếu. Sau khi sinh mổ nếu cho em bé bú sớm, người mẹ biết cách chăm sóc hai bầu vú, ăn uống đủ chất ... thì sữa vẫn tiết Bình thường. Tuy nhiên sữa nhiều hay ít còn phụ thuộc vào từng bà mẹ khác nhau.

Không nên cho con bú ngay sau khi đẻ mổ vì người mẹ phải tiêm kháng sinh?
Điều này hoàn toàn sai. Hiện nay chúng tôi khuyên các bà mẹ kể cả đẻ thường và đẻ mổ phải cho con bú càng sớm càng tốt. Bú sớm có tác dụng giúp cho tử cung co hồi tốt, kích thích tuyến sữa tiết sữa nhiều và những giọt sữa non rất cần cho bé trong những ngày đầu mới sinh. Mẹ sau khi mổ tiêm kháng sinh vẫn cho bé bú Bình thường.

Những sản phụ đẻ mổ sẽ được Quan hệ tình dục sớm hơn những người đẻ thường vì cơ quan sinh dục không bị tổn thương?
Không đúng. Sau khi đẻ mổ hoặc đẻ thường bộ phận sinh dục của người phụ nữ phải có thời gian nhất định mới có thể trở lại Bình thường (đó là sự co hồi của tử cung, sự bài tiết của sản dịch sau sinh...) Thời gian phục hồi này không phụ thuộc vào việc đẻ thường hay đẻ mổ.

Những người cận thị nặng đẻ mổ sẽ an toàn hơn?
Hiện nay chưa thấy có tài liệu nào Nói về những sản phụ bị cận thị nặng thì phải mổ lấy thai.

Sau khi sinh mổ 24 giờ sản phụ phải vận động (ngồi dậy, tập đứng, tập đi..) để tránh bị dính ruột?
Sau khi mổ đẻ (mổ bụng Nói chung) thường có thời gian liệt ruột cơ năng. Do vậy sau khi mổ 24 giờ đầu thường thấy chướng bụng, đau quặn bụng .... Chúng tôi thường khuyên các sản phụ sau mổ phải vận động sớm (sau 24 giờ) để giúp cho ruột nhu động lại sớm (có trung tiện sớm). Nếu ruột thông sớm, nhu động trở lại sớm sẽ làm cho người phụ nữ đỡ mệt hơn, ăn uống trở lại Bình thường và giúp cơ thể chóng Bình phục.



Theo mevabe

Bloglamme.net - Cho bé nghe nhạc khi vẫn còn trong bụng mẹ là một trong những lời khuyên của bác sĩ giúp bé sinh ra thông minh hơn. Tuy nhiên không phải mẹ bầu nào cũng biết cách cho bé nghe đúng cách. Thời điểm nào thích hợp, thời gian nghe.... Dưới đây bloglamme sẽ giới thiệu tới các mẹ những điều cơ bản nhất nhé

Âm nhạc chính là 1 yếu tố giúp bé phát triển trí tuệ. Các mẹ bầu cũng cần biết 1 vài điều cơ bản để việc nghe nhạc mang lại hiệu quả cao khi mang thai bé.

Theo các chuyên gia tâm lý, các bà mẹ nên tập cho bé nghe nhạc từ tuần tuổi thứ 16 vì khi đó não bộ của bé đã bắt đầu hình thành và phát triển, có khả năng cảm thụ được âm thanh nhẹ nhàng. Tuy nhiên vẫn có những thắc mắc như nên cho con nghe thể loại nhạc gì, tư thế người mẹ khi cho bé nghe nhạc, thời điểm nào nghe là tốt nhất ? Chúng tôi sẽ giải đáp ngay sau đây:

Nghe nhạc vào thời điểm nào là hợp lý?

Các bà mẹ có thể cho thai nhi nghe nhạc từ tuần thứ 16 trở đi với tần suất trung bình từ 1 tới 2 lần mỗi ngày, mỗi lần nên kéo dài từ 20 đến 25 phút.


Mẹ nên cho bé nghe nhạc từ tuần 16 trở đi

Một điều các bà mẹ cần biết đó là em bé trong bụng mẹ thường ngủ khi mẹ hoạt động và ngược lại thức khi mẹ thư giãn. Vì vậy, mẹ nên chọn thời điểm nghe nhạc lúc bé thức giấc là thích hợp nhất vì lúc này bé có thể cảm nhận được âm nhạc nhiều hơn. Các bà mẹ có thể chọn thời điểm nghe nhạc khi nằm thư giãn trên giường, trước khi đi ngủ hoặc trong buồng tắm.

Nghe nhạc gì?

  • Các nghiên cứu khoa học đã chứng minh nhạc cổ điển là lựa chọn tốt nhất đối với bé. Những âm thanh nhẹ nhàng, du dương với tiết tấu nhẹ nhàng làm mẹ và bé cảm thấy dễ chịu hơn. Giai điệu của các bài hát ru, bài đồng quê, những bản nhạc cổ điển như của Bethoven, Mozart,…có tần số nhịp từ 60 – 80 nhịp/ phút tương tự với tần số nhịp tim của con người nên giúp mẹ và bé thư thái.


  • Các mẹ không nên chọn những thể loại nhạc mạnh như Rap, Rock vì âm nhạc của nó không phù hợp với não bộ của bé, có thể làm cho bé bị stress. Nếu các mẹ mang thai bụng to có thể tăng âm lượng lên một chút và bụng nhỏ thì giảm đi. Cùng với thai nhi, mẹ có thể cùng bé lắng nghe những giai điệu nhạc yêu thích.


  • Một số album tốt cho phụ nữ khi mang thai các mẹ có thể tham khảo: album “Phép màu nhiệm cho con”, “Baby Bach”, “Baby Mozart” và “Baby Chopin”… 


Cách nghe nhạc?

Nhiều bà mẹ băn khoăn cách nghe nhạc để không ảnh hưởng tới bé cũng như sức khỏe của mẹ. Hiện nay, có 2 cách nghe nhạc đó là: áp tai nghe vào bụng để bé nghe dễ hơn hoặc là bật loa to với để bé tự tiếp xúc với âm thanh.


Mẹ áp tai nghe vào bụng cho bé nghe nhạc

Khi ở nhà, bạn có thể bật nhạc để loa, vừa nhún nhảy theo giai điệu vừa thì thầm lời hát với bé,… Bé sẽ cảm nhận được sự yêu thương từ cha mẹ cũng như giúp bé hình dung ra cuộc sống muôn màu qua âm nhạc. Âm nhạc sẽ thúc đẩy sự hoàn thiện về thể chất, trí tuệ cũng như khả năng sáng tạo và biểu lộ cảm xúc của bé yêu. Các mẹ khi mang thai cần chú ý phối hợp các thể loại nhạc, cũng như trò chuyện để mang lại cho bé sự yêu thương gần gũi nhất.



Theo promom.com.vn

Author Name

Contact Form

Name

Email *

Message *

Powered by Blogger.